Chuyên sâu về bệnh

Đường trong máu - Khi nào là nguy hiểm?


14 May
2025
|

Đường trong máu - Khi nào là nguy hiểm?

Tiểu đường - hay cách gọi dân gian là “đường trong máu” hay “máu ngọt” - vẫn là căn bệnh ám ảnh nhiều người ở nhiều độ tuổi! Tìm hiểu sớm sẽ dễ phòng tránh!

Mặc dù đã được báo động rất nhiều trên phương tiện truyền thông đại chúng nhưng ở Việt Nam, bệnh tiểu đường vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

Hãy kiểm tra các dấu hiệu của bạn để xem bản thân đã ở mức báo động chưa!

1. Tiểu đường là gì?

Nhiều người vẫn chưa có thói quen tầm soát căn bệnh này ngay lúc còn khỏe nên không lạ gì nếu ví số bệnh nhân tiểu đường trên thực tế chỉ là phần nổi của tảng băng rất sâu.

Muốn ngăn chặn bệnh tiểu đường không thể chỉ trông cậy vào nhà điều trị, vì thầy thuốc trong cảnh quá tải còn đâu thời giờ để tư vấn về cách phòng bệnh. Thông tin cụ thể và dễ hiểu cho người chưa bệnh về cách phát hiện bệnh vì thế chính là biện pháp đơn giản nhất để phòng chống căn bệnh này. Nếu ai nóng lòng muốn biết có thuộc nhóm “mồi ngon” của bệnh này hay không thì chỉ cần tự đánh giá mức độ rủi ro qua 10 tiêu chí dưới đây:

  • Trọng lượng cơ thể thuộc nhóm béo phì.
  • Nghiện thuốc lá đã nhiều năm.
  • Ít khi hoạt động thể dục thể thao trong vài năm gần đây.
  • Huyết áp thường cao hơn 140/85 mmHg.
  • Có thân nhân đã từng bị bệnh tiểu đường.
  • Lượng mỡ trong máu, cụ thể là Triglyceride và LDL-cholesterol, cao hơn bình thường.
  • Thường có cảm giác đắng miệng và khát nước. Thích uống nước ngọt nhưng uống vào lại có cảm giác khó chịu.
  • Đi tiểu nhiều, đặc biệt về đêm, với cảm giác mắc tiểu cầm không nổi hay tiểu nhiều lần lắt nhắt với lượng không nhiều.
  • Thường đói run bất ngờ làm hoa mắt, chóng mặt, vọp bẻ, vã mồ hôi...; không cảm thấy thoải mái nếu mỗi ngày chỉ có 3 bữa ăn chính.
  • Người thân nhận thấy bạn gần đây thay đổi tính tình, chẳng hạn dễ cáu kỉnh hay bỗng nhiên ít nói.

Nên nhớ chỉ cần “dính” một trong số các điểm nói trên thì đã đủ để bạn phải nhanh chóng tìm thầy thuốc xin xét nghiệm đường huyết vài lần, không chỉ trong lúc bụng đói mà cả sau khi ăn vài giờ để thầy thuốc có thể đánh giá chính xác, thay vì chỉ trông cậy vào kết quả của một lần xét nghiệm thường dễ sai lệch do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan.

Nếu hội đủ đến 3 điểm thì phải dứt khoát theo dõi đường huyết một cách định kỳ, chẳng hạn mỗi 3 tháng/lần để kịp thời phát hiện bệnh tiểu đường. Bên cạnh biện pháp chủ động giới hạn các món ăn làm tăng đường huyết như đường cát, bột ngọt, tinh bột... thì đã đến lúc cần chú trọng nhiều hơn vào phương án giảm đường huyết mà không cần dùng thuốc, chẳng hạn như thể dục thể thao.

Với đối tượng góp đủ đến 5 điểm thì bệnh tiểu đường hầu như đã là mối đe dọa, phải tìm mọi cách để bớt điểm trong lần trắc nghiệm kỳ tới. Giảm cân, cai thuốc lá, chơi thể thao... thứ nào cũng tốt cả, miễn là đừng dại mà bó tay ngồi chờ.

Có trên 6 điểm thì không còn gì để bàn thêm, vì lúc đó chắc chắn đã rất gần đến ngày vào phòng cấp cứu.

2. Cần làm gì khi phát hiện tiểu đường?

a. Nhận chẩn đoán từ bác sĩ:

  • Xét nghiệm HbA1C:

Có tên khác là Test Hemoglobin A1C, nhằm xác định mức độ đường huyết trung bình của một người trong suốt 3 tháng. Nếu kết quả xét nghiệm HbA1C từ 6,5% trở lên, người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường (HbA1C bình thường từ 4% – 6%).

  •  Xét nghiệm đường huyết lúc đói:

Xét nghiệm này nên thực hiện vào buổi sáng, sau khi người bệnh nhịn ăn tối thiểu 8 tiếng. Người tiểu đường có kết quả đo đường huyết lúc đói từ 126mg/dL trở lên trong 2 lần xét nghiệm riêng biệt.

  • Đo đường huyết ngẫu nhiên:

Người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường khi mức đường huyết đo ngẫu nhiên từ 200mg/dL trở lên.

  • Xét nghiệm kháng thể:

Dựa trên khám lâm sàng, nếu bác sĩ nghi ngờ người bệnh bị tiểu đường thì cần thực hiện xét nghiệm kháng thể kháng tiểu đảo (GAD, ICA) để xác định tiểu đường type 1 hay 2. Nếu kết quả dương tính, người bệnh được kết luận mắc tiểu đường type 1. Nếu kết quả âm tính, cần làm thêm xét nghiệm C-peptid. Kết quả tương ứng với chẩn đoán như sau:

  • Nếu C-peptid < 200pmol/L: người bệnh được chẩn đoán tiểu đường type 1.
  • Nếu C-peptid > 600pmol/L: người bệnh được chẩn đoán tiểu đường type 2.
  • Nếu C-peptid từ 200pmol/L – 600pmol/L: chưa thể xác định loại tiểu đường. Bệnh nhân cần thực hiện lại xét nghiệm này sau 5 năm.

b. Điều chỉnh lối sống:

Người bệnh cần thực hiện một số thay đổi trong đời sống như chế độ ăn như sau:

  • Kiểm soát chế độ ăn
  • Kiểm soát lượng carbohydrate nạp vào
  • Sử dụng thực phẩm giàu chất xơ

Các thay đổi này giúp bệnh không tiến triển tệ thêm, và hỗ trợ bệnh nhân dùng thuốc hiệu quả hơn.

 

L O A D I N G